Tại nhiều đô thị, không khó bắt gặp những khu đất nằm giữa khu dân cư nhưng nhiều năm không được đưa vào sử dụng. Có nơi cỏ mọc um tùm, trở thành điểm tập kết rác; có nơi quây tôn kín mít hoặc từng được kỳ vọng triển khai dự án nhưng chậm tiến độ kéo dài.
Đằng sau những khu đất bỏ trống có thể là đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án; đất công dôi dư; đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường; đất sau cổ phần hóa, thoái vốn hoặc các dự án tồn đọng.
Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan xác định đất đai phải được quản lý chặt chẽ, minh bạch, khai thác và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, bền vững, qua đó đưa đất đai thực sự trở thành nguồn lực chiến lược và động lực phát triển.
Trong đó, việc hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý những trường hợp sử dụng đất kém hiệu quả được đặt trong yêu cầu chung về nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với nguồn lực đất đai.
Không phải cứ đất trống là bị thu hồi
Theo khoản 8 Điều 81 Luật Đất đai năm 2024, đất được Nhà nước giao, cho thuê, cho phép chuyển mục đích sử dụng, công nhận quyền sử dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư thuộc trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai.
Tuy nhiên, chủ đầu tư được gia hạn sử dụng đất không quá 24 tháng và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính bổ sung theo quy định. Hết thời hạn được gia hạn mà vẫn chưa đưa đất vào sử dụng, Nhà nước thu hồi đất theo quy định.
Đối với đất trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất trồng cây lâu năm và đất trồng rừng, pháp luật cũng quy định những thời hạn không sử dụng đất cụ thể; việc thu hồi trong các trường hợp này gắn với điều kiện người sử dụng đất đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn không đưa đất vào sử dụng theo thời hạn ghi trong quyết định xử phạt.
Vì vậy, “đất bỏ hoang” không phải là một căn cứ độc lập để có thể kết luận ngay một khu đất phải bị thu hồi.
Cơ quan quản lý cần xác định cụ thể chủ thể sử dụng đất, nguồn gốc và mục đích sử dụng, thời điểm bàn giao đất, tiến độ thực hiện dự án, tình trạng sử dụng thực tế cũng như nguyên nhân dẫn đến việc chậm đưa đất vào sử dụng.
Theo khoản 3 Điều 31 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức rà soát, xử lý và công bố công khai trên cổng thông tin điện tử của UBND cấp tỉnh các dự án không đưa đất vào sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc chậm tiến độ sử dụng đất 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư; các dự án được gia hạn và các dự án chậm tiến độ do lý do bất khả kháng.
Khi dữ liệu đất đai được chuẩn hóa, những khoảng trống sẽ dễ nhận diện hơn
Nghị quyết số 229/NQ-CP ngày 13/8/2026 của Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW và Kế hoạch số 07-KH/TW đặt mục tiêu đến hết năm 2027 cơ bản hoàn thành Hệ thống thông tin quốc gia và cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.
Theo kế hoạch, hệ thống được xây dựng theo hướng tập trung, thống nhất, đồng bộ, hiện đại, đa mục tiêu; kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành về quy hoạch, thuế, công chứng, ngân hàng, bất động sản... nhằm cập nhật đầy đủ, kịp thời các biến động đất đai.
Đến hết năm 2026, mục tiêu là hoàn thành xây dựng, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu đối với toàn bộ các thửa đất đã được thu thập thông tin, dữ liệu. Đến hết năm 2027, cơ bản hoàn thành công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai đối với diện tích, thửa đất chưa có trong cơ sở dữ liệu.
Khi dữ liệu được chuẩn hóa, cập nhật và kết nối, cơ quan quản lý có thêm công cụ để theo dõi biến động, đối chiếu thông tin về chủ thể sử dụng đất, mục đích sử dụng, tiến độ dự án và xác định những trường hợp cần kiểm tra, xác minh thực tế.
Tuy nhiên, số hóa dữ liệu không đồng nghĩa hệ thống có thể tự động kết luận một khu đất “bỏ hoang” hoặc tự động dẫn đến quyết định thu hồi đất. Dữ liệu là công cụ phục vụ quản lý, phát hiện và đối chiếu; việc xác định vi phạm và thực hiện các thủ tục xử lý vẫn phải căn cứ hồ sơ, tình trạng sử dụng đất thực tế và quy định pháp luật.
Không chỉ thu hồi, quan trọng hơn là đưa đất trở lại đúng mục đích
Thu hồi đất chưa phải điểm kết thúc của bài toán lãng phí. Quan trọng hơn là quỹ đất sau xử lý phải được quản lý, khai thác và sử dụng phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch trong quá trình giao đất, cho thuê đất, đấu giá quyền sử dụng đất hoặc lựa chọn nhà đầu tư theo quy định.
Nghị quyết số 21-NQ/TW đặt mục tiêu quản lý đất đai chặt chẽ, minh bạch, công bằng, bền vững; đưa đất đai trở thành nguồn lực chiến lược, lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển đất nước.
Cùng với đó, Kế hoạch của Chính phủ yêu cầu tăng cường thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất, tập trung vào các lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.
Bởi vậy, bài toán đất bỏ hoang cần được nhìn ở cả hai chiều: ngăn việc đất đai bị sử dụng kém hiệu quả và bảo đảm quỹ đất sau xử lý thực sự được đưa vào sử dụng đúng quy hoạch, phát huy giá trị.
Minh bạch dữ liệu để người dân có thể giám sát
Khi thông tin đất đai được chuẩn hóa và số hóa, người dân, doanh nghiệp và các chủ thể liên quan có điều kiện thuận lợi hơn trong tiếp cận thông tin, đồng thời tăng khả năng tham gia giám sát việc quản lý, sử dụng nguồn lực đất đai.
Nghị quyết số 229/NQ-CP cũng yêu cầu tăng cường công khai, minh bạch, ứng dụng công nghệ số trong quản lý, sử dụng đất; bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả giám sát của Quốc hội, HĐND, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan báo chí và Nhân dân.
Với số lượng lớn thửa đất, dự án và hồ sơ, quản lý đất đai không thể chỉ dựa vào kiểm tra thủ công. Một hệ thống dữ liệu đầy đủ, chính xác và được cập nhật thường xuyên sẽ giúp cơ quan quản lý phát hiện vấn đề sớm hơn, đồng thời tạo thêm cơ sở cho hoạt động giám sát xã hội.
Đất đai là nguồn lực hữu hạn. Vì vậy, những khu đất bỏ hoang không chỉ là câu chuyện về cỏ mọc hay những hàng rào tôn kéo dài nhiều năm, mà còn liên quan đến hiệu quả sử dụng nguồn lực, trách nhiệm của người sử dụng đất và năng lực quản lý Nhà nước.
Mục tiêu đến hết năm 2027 cơ bản hoàn thành Hệ thống thông tin quốc gia và cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng cho phương thức quản lý dựa trên dữ liệu, tăng tính minh bạch và giúp việc kiểm tra, giám sát, xử lý những trường hợp sử dụng đất kém hiệu quả được thực hiện hiệu quả hơn.