Một vụ tranh chấp nhà đất kéo dài nhiều năm tại TP.HCM vừa khép lại với phán quyết của tòa án, sau khi gia đình sinh sống gần nửa thế kỷ trong căn nhà vẫn không thể chứng minh quyền sở hữu hợp pháp, dù cho rằng đã “mua” bằng thỏa thuận miệng từ nhiều thập niên trước.
Theo hồ sơ vụ án, căn nhà tại địa chỉ 28B, khu vực trung tâm TP.HCM, có nguồn gốc thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông B., được mua và hợp thức hóa từ năm 1953. Đến năm 1959, ông S. vào ở với tư cách người thuê và có trả tiền thuê nhà hàng tháng.
Sau năm 1975, do hoàn cảnh khó khăn, ông S. ngừng trả tiền thuê nhưng vẫn tiếp tục sinh sống tại đây. Trong suốt quá trình sử dụng, theo trình bày của ông N. (con trai duy nhất của vợ chồng ông B.), ông S. nhiều lần kê khai thừa nhận nguồn gốc căn nhà thuộc sở hữu của cha mẹ ông N.
Sau khi mẹ qua đời, ông N. đã nhiều lần yêu cầu trả lại nhà nhưng không được chấp nhận. Đáng chú ý, phía ông S. không đưa ra được bất kỳ giấy tờ nào chứng minh việc mua bán hợp pháp, mà chỉ cho rằng đã nhận chuyển nhượng từ năm 1959 với giá khoảng 7 lượng vàng, thông qua thỏa thuận miệng.
Không những vậy, trong các bản kê khai qua nhiều thời kỳ, lời trình bày của ông S. về nguồn gốc căn nhà có sự mâu thuẫn: khi thì khai mua từ người khác, khi lại cho rằng mua từ cha của ông N. Bên cạnh đó, vào năm 1988, ông S. từng xin phép gia đình chủ sở hữu để cơi nới phần gác và cam kết tháo dỡ khi có yêu cầu - tình tiết được phía nguyên đơn xem là bằng chứng cho thấy đây chỉ là quan hệ ở nhờ, không phải sở hữu.
Ở chiều ngược lại, bị đơn lập luận rằng gia đình đã sinh sống ổn định trong thời gian dài, có công sức sửa chữa, xây dựng và đề nghị được công nhận quyền sở hữu theo thời hiệu chiếm hữu.
Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, TAND TP.HCM nhận định không có căn cứ pháp lý chứng minh việc chuyển nhượng nhà đất giữa hai bên. Các tài liệu kê khai qua nhiều giai đoạn đều xác định chủ sở hữu hợp pháp vẫn là vợ chồng ông B. Do đó, ông N. được xác định là người thừa kế hợp pháp duy nhất và có đầy đủ quyền đối với tài sản.
Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện, buộc gia đình ông S. phải trả lại toàn bộ nhà đất. Đồng thời, ghi nhận việc ông N. tự nguyện hỗ trợ 600 triệu đồng để bù đắp chi phí xây dựng và công sức bảo quản tài sản.
Không đồng ý với phán quyết, phía bị đơn kháng cáo, cho rằng căn nhà đã được xây dựng lại từ năm 1962 và đề nghị xem xét quyền sở hữu theo thời hiệu. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, TAND cấp cao tại TPHCM tiếp tục khẳng định việc sử dụng nhà của gia đình ông S. chỉ mang tính chất ở nhờ, không có căn cứ xác lập quyền sở hữu.
Từ đó, tòa quyết định bác toàn bộ kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Vụ việc là một ví dụ điển hình cho những tranh chấp phát sinh từ giao dịch nhà đất không có giấy tờ pháp lý, đặc biệt là các thỏa thuận miệng kéo dài qua nhiều thế hệ. Phán quyết của tòa một lần nữa khẳng định, quyền sở hữu tài sản chỉ được công nhận khi có căn cứ pháp lý rõ ràng, không thể thay thế bằng việc sử dụng lâu dài nếu không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp.